Lược sử họ Gia Định

Một trăm năm trước, từ Sài Gòn, sau khi vượt qua cầu Sắt – Đa Kao (nay là cầu bê tông Bùi Hữu Nghĩa) bắc ngang rạch Cầu Bông và đi dọc đường dây điện Sài Gòn – Gò Vấp, ta thoáng thấy không xa tỉnh lỵ Gia Định bao nhiêu, một xóm nhà nằm rải rác trong những vườn chuối um tùm và vườn cau mênh mông, với vô số sông ngòi và đầm lầy bao bọc xung quanh: đó gọi là họ Cầu Bông – Gia Định.

Nguồn gốc

Nguồn gốc họ Cầu Bông – Gia Định cũng giống như các phần lớn các họ đạo của vùng Sài Gòn ngày xưa. Vào khoảng năm 1860, dưới thời Đức Cha Dominique Lefèbvre (Đức Thầy Ngãi), một số chị em giáo dân mà phần đông từ miền Đông Nam Bộ, như: Búng, Lái Thiêu, Thủ Dầu Một… những họ đạo lâu đời rất đông giáo dân, do gặp khó khăn trong đời sống đức tin, đã phải rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn, nơi chôn rau cắt rốn, tìm nơi ẩn náu cho qua lúc khó khăn. Lúc bấy giờ Gia Định là vùng Đất Hứa, là nơi trú ẩn an toàn cho giáo dân đang bị bách hại.

Sau nhiều thăng trầm, một số gia đình đã đến định cư gần rạch Cầu Bông. Sau đó, nhiều anh chị em giáo dân từ những nơi khác cũng tìm đến lập nghiệp, do vậy, chẳng bao lâu, số giáo dân lên đến cả ngàn người, họ cần nhà trên những vùng đất bỏ hoang. Lúc đó, Cha sở họ Thị Nghè Antôn Võ Ngọc Triêm (1860 – 1867) kiêm nhiệm họ Cầu Bông, đã cất một nhà nguyện sát rạch Cầu Bông, nhưng về sau, con rạch bị lở nên nhà thờ được dời về địa điểm mới. Nhà thờ mới tọa lạc tại địa điểm cạnh trường Lê Văn Tám ngày nay, đối diện là lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt (lăng Ông), bên trái là chợ Bà Chiểu, bên phải là Ủy Ban Nhân Dân quận Bình Thạnh bây giờ. Một thời gian sau, hương chức làng Bình Hòa yêu cầu cha Antôn Triêm dời nhà thờ đi nơi khác. Lúc bấy giờ, số giáo dân chỉ còn khoảng 200 vì một số lớn đã hồi cư, số khác gia nhập họ Tân Định, do triều cường liên miên từ rạch Cầu Bông cùng với hệ thống sông rạch chằng chịt khiến cho việc đi lại, làm ăn trở nên khó khăn. Cha Antôn Triêm mua được một miếng đất với giá 30 quan tiền của một người tên Đinh, một giáo dân ở họ Búng dâng một ngôi nhà ngói, ngài liền nới rộng thêm để làm nhà thờ vào năm 1867.

Cuối năm 1867, Bề trên thuyên chuyển cha Antôn Triêm về Mỹ Tho, rồi sau đó qua đời tại họ Xoài Mút (Rạch Gầm) năm 1879. Sau khi cha Antôn Triêm đi Mỹ Tho, cha Isidore Colobert, thư ký của Đức Cha Jean Claude Miche (Đức Thầy Mịch), vẫn ở tại Tòa Giám Mục Sài Gòn, nhưng chịu trách nhiệm lo cho đời sống đức tin của giáo dân họ Cầu Bông. Ngài ban bí tích Thánh Tẩy, Giải Tội và dâng lễ Chúa Nhật cho cộng đoàn nhỏ bé này. Ngài ban bí tích Thánh Tẩy cho người tân tòng đầu tiên vào ngày 01-07-1867 mà sổ rửa tội họ Thị Nghè còn lưu lại, đồng thời cũng chăm sóc cho giáo dân họ Cầu Bông. Vào năm 1869, cha Martin được bổ nhiệm về làm Cha sở Thị Nghè và Cầu Bông cho đến năm 1873. Tháng 10 năm 1873, Bề trên sai cha Delpech (Định) về làm cha sở họ Thị Nghè kiêm nhiệm họ Cầu Bông cho tới tháng 12 năm 1876. Trong 30 năm sau đó, trừ một thời gian ngắn (1876 – 1878) thuộc họ Tân Định, các Cha sở họ Thị Nghè coi sóc luôn họ Cầu Bông. Năm 1875, cha Delpech (Định) xây một nhà thờ mới vì nhà thờ cũ do cha Antôn Triêm xây trước đây đã xuống cấp nghiêm trọng, nên không thể sử dụng được nữa. Nhân dịp này, nhiều gia đình Công giáo, nhất là những người ở Lái Thiêu và Chợ Quán dâng cúng tiền của để mua đất, xin phép dời nhà thờ từ chỗ đối diện Lăng Ông đến địa điểm hiện nay (280 Bùi Hữu Nghĩa, phường 2, quận Bình Thạnh), đặc biệt là nhờ lòng quảng đại của ông bà Lai Sang. Phí tổn việc xây dựng nhà thờ lúc này lên tới 1000 đồng bạc.

Miếng đất mà cha Delpech (Định) xây nhà thứ hai là tài sản của Tòa Giám Mục Sài Gòn mua ngày xưa. Chung quanh nhà thờ lúc ấy toàn là ruộng nước, kinh rạch chằng chị, đi lại chủ yếu bằng ghe xuồng, chỉ có con lộ nhỏ từ chợ Bà Chiểu đi xuống, trước mặt tiền nhà thờ có đường dây diện Sài Gòn – Gò Vấp (ngày xưa cầu sắt – Đa Kao là cầu dành cho xe điện, nay là cầu bê tông Bùi Hữu Nghĩa). Tháng 12 năm 1876, cha Delpech (Định) được Bề trên sai đi làm Cha sở họ Tha La, họ Cầu Bông nay thuộc về Tân Định.

Vào năm 1878, cha Greset (Hòa) được bề trên bổ nhiệm về làm Cha sở họ Thị Nghè kiêm nhiệm họ Cầu Bông. Trong thời gian coi sóc họ Cầu Bông, ngài muốn làm một con đường tắt đi xuyên qua đồng lúa để đi đến Thị Nghè cho tiện, khỏi phải đi vòng qua đường Bạch Đằng như hiện nay, nhưng vì không đủ kinh phí, nên ngài đành bỏ dở dự định này. Ngài chỉ có thể cho nạo vét con kinh nhỏ trước nhà thờ, lấy đất đắp cao nên nhà thờ và hai bên bờ kinh mà thôi. Tuy nhiên, ngài quan tâm đến một lãnh vực khác hết sức quan trọng: đó là lãnh vực giáo dục.

Không chỉ lo xây cất trường học nhằm truyền bá văn hóa và dạy giáo lý cho con em trong họ đạo, cha Greset (Hòa) còn đặc biệt cổ vũ ơn gọi linh mục và tu sĩ. Lời mời gọi tha thiết của ngài đem lại nhiều kết quả rất khích lệ: nhiều thiếu niên nam nữ đã hăng hái gia nhập Chủng Viện và các dòng tu (Mến Thánh Giá: 4; dòng Kín: 1; dòng Chúa Hài Đồng: 2); trong số các chủng sinh có một linh mục, đó là cha Micae Nguyễn Văn Thao, con ông trùm Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Nghề, cha Thao sinh năm 1873 và thụ phong linh mục ngày 22 tháng 09 năm 1906. Ngôi nhà của thân phụ ngài ở phía đối diện với nhà thờ, và bây giờ còn một người cháu là ông Antôn Nguyễn Văn Đậu, một trong nhiều ba người trực Văn phòng họ Gia Định từ nhiều năm qua.

Thật ra, từ năm 1893, họ Cầu Bông đã có thêm một linh mục là cha Anrê Nguyễn Văn Miều, nhưng ngài không phải là người sinh trưởng tại Gia Định. Chỉ khi ngài gia nhập chủng viện Pi Năng (ở phía Bắc Malaysia, nơi có nhiều linh mục Việt Nam thuộc cả ba miền Bắc Trung Nam được gửi sang du học, trong đó có Đức Cố Giám Mục Phụ tá Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh Luy Phạm Văn Nẫm), cha mẹ ngài mới đến cư ngụ tại họ Gia Định.

Năm 1879, cha Fourgerouse (Phụng) thay thế cha Greset (Hòa) chuyển đi họ khác cho đến năm 1884. Trong năm này, Đức Cha Colombert (Đức Thầy Mỹ) sai cha Fourgerouse đi làm Cha sở họ Mặc Bắc, một họ đạo kì cựu và rộng lớn thuộc tỉnh Trà Vinh (hiện nay thuộc giáo phận Vĩnh Long), và truyền cho cha Delpech (Định) trở về làm Cha sở họ Thị Nghè và Cầu Bông, vì lúc đó ngài bị tai nạn khi đi ngựa băng qua các cánh đồng mênh mông của họ Rạch Lọp, mà Mặc Bắc cũng là một vùng quê xa xôi, không thầy không thuốc, nên ngày được Đức Cha Colombert cho trở về Sài Gòn và sau đó sang Hồng Kông để chữa bệnh, nhưng bệnh tình không thuyên giảm, nên ngài đành phải trở về Pháp vào ngày 22 tháng 04 năm 1887. Trong một năm ngài vắng mặt, cha Abonnel (Bổn), giáo sư Tiểu Chủng Viện Thánh Giuse đến dâng lễ Chúa nhật cho giáo dân họ Cầu Bông, còn cha P. Dương, cha phó họ Thị Nghè, lo việc xức dầu bệnh nhân khi cần.

Trong thời điểm này, ngài mời các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán đến mở trường dạy học cho con em trong họ đạo mà cho đến lúc ấy do một thầy giáo đảm trách.

Ngày 14 tháng 06 năm 1888, sau khi lành bệnh, cha Delpech (Định) trở lại Việt Nam và lần thứ ba, ngài được Bề trên bổ nhiệm làm Cha sở Thị Nghè kiêm Cầu Bông cho tới năm 1897.

Trong năm 1897, Đức Cha Jean Dépierre (Đức Thầy Để) Giám Mục Sài Gòn  (1895 – 1899) bổ nhiệm cha LAMBERT (LƯƠNG) lúc ấy đang coi sóc họ Thị Nghè, làm Cha sở đầu tiên của họ Cầu Bông. Như vậy, vào năm 1897, cách đây 119 năm, họ Cầu Bông được chính thức nâng thành giáo xứ (tính tới thời điểm 2016).

Toàn thể giáo dân của cộng đoàn Cầu Bông lúc ấy hết sức vui mừng, người người cùng góp công góp của lo cất nhà Cha sở để ngài có nơi ăn chốn ở thuận tiện cho công việc mục vụ, và cùng với ngài sửa chữa nhà thờ. Nhưng vùng đất Gia Định là vùng đất sình lầy, tức “đất không chân” như thường nói, nên thợ phải xây nhà “cao cẳng” với cột bằng gạch cao 2m, rồi mới đóng ván làm vách, phần chính lợp ngói, phần phụ lợp lá dừa, do không thể xây nhà trệt được do luôn bị ngập nước.

Cha Lambert Léon Marie Joseph, sinh ngày 21-11-1865 tại họ Saint Sébastien Nancy – Pháp. Ngài vào Chủng Viện hội Thừa Sai Paris ngày 11-09-1886, chịu chức linh mục ngày 28-09-1890 và lên đường đến địa phận Tây Đàng Trong ngày 10-12-1890.

Năm 1893-1894, cha Lambert thay thế cha Martin tại Bà Rịa trong 18 tháng, vì cha Martin tạm thời trở về Pháp.

Từ khi có Cha sở giữa giáo dân, sinh hoạt mục vụ khởi sắc hẳn lên. Có thể nói ngày đem lại sức sống mới cho họ đạo. Ngài lo xây dựng họ đạo theo truyền thống đã có trong Hội Thánh từ hàng ngàn năm qua: lập ban Quới chức (bây giờ gọi là Hội đồng Mục Vụ Giáo xứ) gồm các ông Trùm, ông Câu, ông Biện,… Để giúp ngài điều hành họ đạo, đồng thời cũng giúp các tổ chức các hội đoàn Công Giáo Tiến Hành, lập các hội hát (ngày nay gọi là ca đoàn), hội giúp lễ, mở các lớp Giáo lý Rước lễ lần đầu, Thêm Sức cho thiếu nhi trong họ đạo…

Cha sở thứ hai: cha DESSEAUME (NGƯƠN) (1899 -1908)

Vào năm 1899, Đức Cha Lucien Mossart (Đức Thầy Mão) Giám mục Sài Gòn (1899 – 1920) bổ nhiệm cha Desseaume (Ngươn) làm Cha sở thứ hai của họ Cầu Bông từ năm 1899 đến năm 1908. Trong 9 năm làm Cha sở họ Cầu Bông, ngài lo xây dựng trường học và cho đào một lạch nhỏ nối rạch Cầu Bông với chợ Bà Chiểu, nhằm giảm ngập và lấy đất nâng cao nền nhà thờ, hiện nay lạch này vẫn còn và chạy ngang qua khu «Khăn đen Suối Đờn » (phường 1, quận Bình Thạnh).

Ngài dự tính xây dựng một nhà thờ mới thay cho nhà thờ hiện có lúc bấy giờ, quá hẹp không đủ chỗ cho giáo dân dự lễ, hơn nữa, lại bị ngập nước thường xuyên. Nhưng vì không đủ kinh phí, nên ngài chỉ nới rộng bằng cách giảm diện tích phòng thánh, và thêm một chái nhà gỗ trước tiền đường nhà thờ. Xem ra ngài không có đủ phương tiện và thời giờ để bắt đầu những công việc quan trọng hơn. Tuy vậy, trong thời gian làm Cha sở họ Cầu Bông, ngài đã hướng dẫn và giới thiệu hai thiếu nữ gia nhập dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán và dạy học tại một số họ đạo trong địa phận.

Cha sở thứ ba: cha PHAOLO NGUYỄN VĂN QUI (1908 – 1913)

Năm 1908, họ Cầu Bông có Cha sở thứ ba : đó là linh mục thứ hai người Việt Nam : cha Phaolô Nguyễn Văn Qui, nguyên là một cha giáo dạy ở Chủng Viện Thánh Giuse lâu năm, và nổi tiếng đạo đức. Vì sức khỏe của ngài quá kém, nên Đức Cha sai ngài đi làm Cha sở, hy vọng khi thay đổi chỗ ở, sức khỏe của ngài sẽ khá hơn, đồng thời cũng có dịp hoạt động mục vụ nhiều hơn.

Ngài sinh năm 1855 và thụ phong linh mục ngày 30-11-1882 do Đức Giám mục Isidore Colombert (Đức Thầy Mỹ). Ngài làm giáo sư Đại Chủng Viện Thánh Giuse suốt 20 năm, tận tâm tận lực trong việc đào tạo các linh mục tương lai cho Giáo Hội. Ngài còn là một linh mục học rộng biết nhiều, viết rất nhiều sách hướng dẫn về tu đức cho chủng sinh, đặc biệt là những bài thánh ca đầu tiên bằng Tiếng Việt rất có giá trị đã đem lại cho cộng đồng dân Chúa một niềm vui khôn tả. Mấy mươi năm sau vẫn còn nhiều nơi sử dụng các bài thánh ca do ngài sáng tác. Ngài cũng còn là một linh mục nổi tiếng chịu khó, ngài không hề ngại vất vả, mệt nhọc khi lặn lội đến thăm viếng từng gia đình trễ nãi, bệnh hoạn, neo đơn để khuyên nhủ, an ủi, giúp đỡ mà kết quả lúc đó thật mỹ mãn đến nỗi vào lúc đó, họ Cầu Bông có nhiều người nguội lạnh trở lại giữ đạo sốt sắng nhất trong các họ đạo vùng ven Sài Gòn. Tổng số giáo dân trong năm 1908 là 450 người.

Cha sở thứ tư: Cha BOSVIEUX (BỘ) (4/1910 – 6/1911)

Tháng 04 năm 1910, cha Phaolô Quy được chuyển về làm Cha sở họ Chí Hòa kiêm Giám Đốc nhà hưu dưỡng các linh mục địa phận nằm kế bên nhà thờ Chí Hòa, và cha Bosvieux (Bộ) được cử đến giúp họ Cầu Bông trong 14 tháng (04-1910 – 06-1911).

Cha sở thứ năm: Cha PHAOLÔ QUI

Tháng 06 năm 1911, cha Phao lô Quy trở lại nhiệm sở Cầu Bông lần thứ hai. Lần này, cha quyết định xây lại nhà thờ đã quá xuống cấp, nhưng vì tài chính eo hẹp, nên cột chỉ xây bằng gạch, vách ván, cung thánh và phía sau phòng thánh xây vách gạch không mấy kiên cố, mãi 3 năm sau mới được Đức Cha Lucien Mossard (Đức Thầy Mão) làm lễ cung hiến và khánh thành vào ngày 28-05-1913. Ngày 01-08-1914, cha Quy được Chua gọi về với 59 tuổi đời và 32 tuổi linh mục. Phần mộ của ngày hiện còn lại đất Thành của các linh mục giáo phận tại Chí Hòa (đường Bành Vân Trân, quận Tân Bình). Ta có thể nói, tuy cha Phao lô Qui mất đi, nhưng sự nhiệt thành của người mục tử thánh thiện đem lại cho cộng đoàn họ Cầu Bông một đà tiến mới trong đời sống đức tin, mà vị kế nhiệm ngày đã xác nhận và hy vọng duy trì, nếu không muốn nói là gia tăng đáng kể lòng đạo đức của giáo dân.

Một vài nhận xét về đời sống đạo đức của cộng đoàn tín hữu họ Cầu Bông vào năm 1910 (dựa trên ghi chép của cha Bosvieux (Bộ) năm 1910)

Về đời sống thiêng liêng: Cộng đoàn họ Cầu Bông khá đạo đức, nhưng đáng tiếc là có một số không ít giao dân nguội lạnh, trễ nãi. Tuy nhiên, có một số gia đình rất đạo đức, siêng năng đi nhà thờ và đời sống đức tin đáng làm gương cho các gia đình khác. Có thể nói những gia đình đạo đức nào là men trong bột, là hạt nhân trong mọi sinh hoạt của họ đạo.

Cách chung giáo dân họ Cầu Bông, già trẻ lớn bé đều có được một sự hiểu biết căn bản về giáo lý, biết những chân lý căn bản trong đời sống đức tin, họ biết những gì phải tin và những gì phải sống. Nhưng đối với phần đông, chưa có được sự hiểu biết đầy đủ về giáo lý.

Việc xưng tội, rước lễ được xem trọng trong một số gia đình đạo đức, thường xuyên lãnh nhận bí tích Thánh Thể và Giải Tội mỗi ngày, mỗi tuần hoặc mỗi tháng, nhưng phần đông giáo dân, nhất là các ông chỉ xưng tội mùa Phục Sinh hoặc chỉ xưng tội, rước lễ và những dịp lễ lớn. Trung bình, mỗi tháng có khoảng 120 người xưng tội, 230 lần rước lễ do lòng đạo đức; tuy nhiên, trong một vài tháng, số người xưng tội rước lễ cũng gia tăng đáng kể. Do bận sinh kế, các ông phải đi làm ở nhà máy Ba Son và nhiều nơi khác nữa, nên hầu như không có giờ để xưng tội, vì họ phải trở về nhà quá trễ, do đó, họ phải tìm dịp thuận tiện, như các ngày nghỉ lễ, để có thể lãnh nhận các bí tích.

Ngày Chúa nhật được giữ rất tốt, cách chung rất ít  giáo dân bỏ lễ Chúa nhật, những ai phải làm ngày Chúa nhật, thường đến tham dự thánh lễ ở các nhà thờ lân cận, hoặc dự lễ 6 giờ tại nhà thờ Chính Tòa Đức Bà Sài Gòn.

Vào các thánh kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse, giáo dân tụ tập đếm nhà thờ làm những việc đạo đức kính các Ngài vào mỗi buổi chiều, trong các tháng Ba, Năm và Sáu, nhưng thường thì số người tham dự không đông lắm, vì hầu hết giáo dân đi làm về rất trễ. Mỗi thứ sáu đầu thánh có khoảng 20 người tham dự thánh lễ và rước lễ, phần đông giáo dân đểu nghèo; tuy vậy, mỗi năm họ cũng xin vài thánh lễ cho ông bà cha mẹ đã qua đời, và mỗi ngày thứ hai đều cầu nguyện chung cho các linh hồn còn ở trong luyện ngục.

Lúc đó họ đạo có mở một trường học dành cho khoảng 70-80 thiếu nhi nam, nữ: hai nữ tu Mến Thánh Giá Chợ Quán chịu trách nhiệm dạy chữ quốc ngữ, tập đọc, tập viết, những phép tính đơn giản, các nữ sinh được học may vá, thêu thùa: ngoài ra, các em cũng được học giáo lý vỡ lòng.

Mặc dầu nghèo khổ và gặp nhiều khó khăn trong đời sống thường ngày, nhưng các gia đình trong họ đạo đã rộng rãi đóng góp (tùy theo khả năng) vào việc sửa chữa trường học và trả lương cho hai dì phước.

Mỗi Chúa nhật, các thanh niên nam, nữ kiên trì tham dự lớp giáo lý, tuy không được đều đặn lắm, có cả vài bậc vị vọng cũng tham dự giáo lý Chúa nhật do các họ đạo tổ chức.

Hội Chúa Hài Đồng được giao cho hai bà mẹ Công giáo, một bà có trình độ học vấn khá cao, còn bà kia rất khéo léo trong việc chăm sóc các trẻ em đau yếu bệnh tật. Số người dự tòng không được đông lắm, có thể nói là rất ít: ta không biết tại sao người lương dửng dưng với đạo Công giáo, hay tại các Kitô hữu không mạnh dạn và nhiệt thành truyền bá đức tin cho những người chưa nhận biết Chúa, có lẽ cả hai lý do đều đúng. Trong thực tế, những người dự tòng lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy để cưới vợ hoặc lấy chồng cho đúng phép đạo thôi. Trước hết việc dạy họ học giáo lý được giao cho một người nào đó, có thể là hàng xóm láng giềng, rồi sau đó, một nữ tu người việt sẽ dạy tiếp cho nữ giới, còn nam giới thì do một linh mục phụ trách.

Về cơ sở vật chất: tuy đời sống đức tin khá tốt, cơ sở vật chất lại hoàn toàn khac. Điều đáng tiếc là trong một thời gian khá dài, không ai làm gì để chấn chỉnh tình trạng xuống cấp này. Tất cả đều cần được làm mơi: nhà thờ, nhà Cha sở, trường học.

Nhà thờ mặc dầu đã được sửa chữa nhiều lần trong những năm sau này, nhưng chỉ cần một cơn dông lớn là sụp đổ ngay; hơn nữa, nếu 30 năm trước, nhà thờ đủ chỗ cho cộng đoàn nhỏ bé lúc bấy giờ, thì nay không còn đủ chỗ. Số người dự lễ lên đến hơn 500, và trong vài năm tới sẽ gia tăng nhiều hơn nữa, vì khi kiểm tra lại số giáo dân, Cha sở nhận thấy vào năm 1909 là 450, nhưng vào tháng 10 năm 1910 là 512.

Về nhà Cha sở, nếu có thể được gọi như vậy , đó là một ngôi nhà cũ kỹ bằng gỗ theo kiểu Việt Nam, lợp ngói; mấy mươi năm trước thì tốt, nhưng vào năm 1917 Cha sở không thể ở được nữa vì xuống cấp nghiêm trọng. Nhà thấp, mùa khô vô cùng nóng bức, còn mùa mưa thì lầy lội ẩm ướt, vì đây là vùng đất trũng, chưa nói đến những ao hồ kinh rạch chung quanh nhà thờ, càng làm cho mặt đất ẩm ướt thêm.

Trường học cũng y như vậy, thường hay bị cháy, và bây giờ trở nên quá nhỏ so với số học sinh thường xuyên đến trường. Các lớp đều quá nóng bức, rất ẩm ướt, chật chội, do đó hai nữ tu không thể sống tạm ở đó đê dạy học được.

Một điều không may mắn khác là lợi tức của họ đạo thật  khiêm tốn, mỗi năm tiền giỏ được chừng 100 đồng, do đó phải tiết kiệm lắm mới tạm đủ để trang trải mọi chi phí trong sinh hoạt mục vụ họ đạo, chứ không thể nâng cấp hoặc xây dựng mới cơ sở vật chất được, dù có thêm một ít thu nhập do các hộ dân đóng tiền thuê đất nhà thờ. Đàng khác, những miếng đất này giá trị kinh tế không cao, vì là đất không chân, thường xuyên bị ngập do triều cường, và bị vô số đầm lầy và con suối bao quanh. Một số giáo dân dâng cho họ đạo. Một số khác do Cha sở mua thêm; hơn phân nữa giáo dân chiếm các miếng đất này và mỗi năm trả cho họ đạo một ít tiền gọi là tiền thuê mướn…

Tóm lại, cơ sở vật chất thì rất tệ: tất cả cần được xây dựng lại, nhưng họ đạo hoàn toàn không có khả năng tài chánh, nên Cha sở lúc bấy giờ đành bó tay.

Cha sở thứ sáu: cha PHANXICO XAVIE NGUYỄN VĂN BINH (1915 – 1916)

          Sau khi cha Phaolo Qui qua đời Phanxico Xavie Nguyễn Văn Binh được bề trên sai đến phục vụ cộng đoàn dân Chúa họ Cầu Bông cho đến tháng 04 năm 1916. Rồi họ Cầu Bông lại được nhập về họ Thị Nghè vì không có Cha sở.

Cha sở thứ bảy: cha TÔMA NGUYỄN KHOA THI (1917 – 1934)

Vào ngày 19 tháng 07 năm 1917, Đức Cha Lucien Mossart (Đức Thầy Mão) bổ nhiệm cha Tô ma Nguyễn Khoa Thi về làm Cha sở họ Cầu Bông và Gò Vấp. Ngài sinh năm 1861, thụ phong linh mục năm 1894 lúc 33 tuổi do Đức Cha Isidore Colombert (Đức Thầy Mỹ). Số giáo dân lúc này đã lên đến 600 người.

Trong 18 năm là Cha sở họ Cầu Bông, ngài đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao trình độ văn hóa, củng cố đời sống đạo đức của giáo dân. Ngài cũng mời lại các dì Chợ Quán đến dạy giáo lý cho thiếu nhi, tập các tuồng về tuồng Thương Khó của Chúa và cuộc đời của các Thánh để diễn cho giáo dân xem trong các dịp lễ lạt. Ngài là người đã xây núi Đức Mẹ vào năm 1930 và tới nay vẫn còn hiện diện giữa chúng ta. Vào năm 1932, ngài lập hội Con Đức Mẹ và giao cho 3 chị nữ tu Bác Ái Vinh Sơn phụ trách. Đó là các chị Marie Mathilde Sempé, Jeanne Legout, Marthe Côte đến Việt Nam vào năm 1928 để làm việc tại nhà thương Nguyễn Văn Học (nay là bệnh viện Nhân Dân Gia Định). Cha Tôma Thi qua đời vào ngày 07-06-1934 giữa sự thương tiếc vô vàn của giáo dân họ Cầu Bông.

Từ năm 1931, hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn trước kia chia đôi, nay được sáp nhập làm một và lấy tên là vùng Sài Gòn – Chợ Lớn, trong đó có tỉnh Gia Định được chia làm 4 quận: Gò Vấp, Hóc Môn, Nhà Bè và Thủ Đức. Họ Cầu Bông thuộc quận Gò Vấp, và kể từ đầu năm 1934, họ Cầu Bông được Tòa Giám Mục chính thức đổi tên thành họ GIA ĐỊNH.

Cha sở thứ tám: cha PHANXICO XAVIE  TRẦN CÔNG MƯU(1934 – 1945)

Tháng 6 năm 1934, cha Phanxicô Xaviê Trần Công Mưu, từ họ Bến Gỗ (gần ngã ba Vũng Tàu) được điều về làm Cha sở họ Gia Định theo lệnh của Đức Cha Victor Quinton (Đức Thầy Tôn – Giám Mục Sài Gòn 1920-1938). Ngài sinh năm 1894 tại họ Tân Qui (nay thuộc xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn) chịu chức linh mục năm 1923 lúc 29 tuổi.

Ngài phục vụ họ Gia Định trong 11 năm. Trong thời gian này, công việc quan trọng nhất của ngài là xây dựng lại ngôi nhà thờ đã quá mục nát thành ngôi thánh đường đồ sộ như hiện nay. Khởi công từ năm 1935, nhưng mãi tới 10 năm sau mới tạm xong, cũng là lúc Cha sở Phanxicô Xaviê từ biệt giáo dân họ Gia Định trở về với Chúa vào ngày 29-01-1945; thi hài của ngài được an táng ngay trước tiền đường nhà thờ, dưới chân tháp chuông, có tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu với lời mời gọi bằng tiếng Latinh: “Venite ad me omnes” “Tất cả những ai đang vất vả nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).

Cha sở thứ chín: cha GIACÔBÊ HUỲNH VĂN CỦA (1945 – 1955)

Cũng trong ngày này, Đức Cha Jean Cassaigne (Đức Thầy Sanh) chính thức bổ nhiệm cha Giacôbê Huỳnh Văn Của, vốn làm phó cho Cha sở Phanxicô Xaviê Trần Công Mưu từ năm 1944, làm Cha sở họ Gia Định. Ngài sinh ngày 11-10-1925 tại họ Bến Lức, tỉnh Long An, chịu chức linh mục ngày 29-09-1941 tại Sài Gòn do Đức Cha Jean Cassaigne.

Trong 12 năm làm Cha sở Gia Định, ngài lo xây dựng hoàn chỉnh ngôi nhà thờ do Cha sở tiền nhiệm, Phanxicô Xaviê Trần Công Mưu, xây dựng từ năm 1935. Ngài cũng xây cất trường học dành cho nam sinh với tên là trường Bossuet bên hông nhà thờ, ở sát phòng thánh, đồng thời mời các nữ tu dòng thánh Phaolô đến dạy văn hóa cho các nữ sinh tại ngôi trường bên cạnh núi Đức Mẹ. Ngài xây dựng nhà thờ Bình Hòa năm 1948 và mua bộ chuông nhạc từ bên Pháp cho họ Gia Định năm 1949; ngài cũng thường xuyên tổ chức rước kiệu từ nhà thờ Gia Định đến Phú Nhuận. Ngài cũng là người xin huy chương Tòa Thánh “Bene Merenti” cho ông trùm nhứt Trần Văn Mai, bà Maria Nguyễn Thị Hiện (mẹ của các cha Trung, Long, Hiệu và bà nội của cha Felic Thiện, hiện là Cha sở Cầu Kho, và là bà cố nội của cha Trân, một linh mục dòng Don Bosco ở San Francisco), bà Trương Thị Gia (bà Ba Nhiêu) con ông Trương Vĩnh Ký, hội trưởng Hội Trái Tim Chúa Giêsu, bà Brigitta Nguyễn Thị Thiệt, hội trưởng hội Con Đức Mẹ và hội hát nữ. Số giáo dân vào thời điểm này lên tới 6000 người và ơn gọi linh mục, tu sĩ khá dồi dào, Sau 12 năm phục vụ họ Gia Định ngài ngã bệnh và được Bề trên cho đi dưỡng bệnh dài hạn.

Cha sở thứ mười: cha MICAE NGUYỄN KHOA HỌC (1956-1961)

Kế nhiệm cha Gia cô bê Của là cha Micae Nguyễn Khoa Học. Ngài sinh năm 1907 tại Bãi Xan, tỉnh Trà Vinh, chịu chức linh mục năm 1935 do Đức Cha Victor Quinton (Đức Thầy Tôn). Ngài về làm Cha sở thứ mười của họ Gia Định khoảng cuối năm 1957 đến năm 1961. Tuy thời gian làm Cha sở không dài, nhưng ngài cũng cố gắng củng cố đời sống đức tin của cộng đoàn dân Chúa. Về cơ sở vật chất, ngài đã trải qua nhiều khó khăn đê xây dựng hàng rào bao quanh khuôn viên nhà thờ, mở rộng hai cánh bên hông chỗ bàn thờ Đức Mẹ và Thánh Giuse, cũng như cho đúc trần hai bên hông nhà thờ.

Cha sở thứ mười một: cha ANTÔN PHÙNG QUANG MẠNH (1961-2004)

Ngày 24 tháng 06 năm 1961, cha Antôn Phùng Quang Mạnh được Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình bổ nhiệm về làm cha sở thứ mười một của họ Gia Định. Có thể nói đây là thời hoàng kim của họ Gia Định. Số giáo dân tăng lên khoảng 12 ngàn người. Trong 43 năm phục vụ họ Gia Định, Cha sở Antôn đã làm được rất nhiều việc hữu ích cho cộng đoàn dân Chúa nơi đây.

Cha sở thứ mười hai: cha INHAXIO HỒ VĂN XUÂN (2004-2016)

Sau khi Cha sở Antôn Phùng Quang Mạnh qua đời ngày 16 tháng 1 năm 2004, Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn bổ nhiệm cha Inhaxio Hồ Văn Xuân là phụ tá cha Antôn Mạnh từ ngày 23 tháng 7 năm 1975 làm Cha sở thứ mười hai của họ Gia Định từ ngày 23 tháng Giêng năm 2004.

Cha sở thứ mười ba: Cha GIUSE MAI THANH TÙNG (2016-)

Vài nét về Cha Sở Giuse Mai Thanh Tùng

  1. Thời thơ ấu (1953-1961)

Chú bé Giuse Mai Thanh Tùng chào đời ngày 02.01.1953 tại Hải Phòng. Nguyên quán ở làng Ninh Cường, tỉnh Nam Định, Giáo Phận Bùi Chu. Lãnh bí tích Thánh Tẩy ngày 09.01.1953 tại Hải Phòng, nhưng lãnh Bí Tích Thêm Sức ngày 21.05.1961 tại nhà thờ Gia Định.

  1. 22 Năm tu học tại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn (1963-1995)
  • Ngày 01.07.1963, Cha Sở Antôn Phùng Quang Mạnh gởi chú Giuse Tùng vào Tiểu Chủng VIện Thánh Giuse Sài Gòn.
  • Sau 8 năm tu học tại Tiểu Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, chú Giuse Tùng được ban Giám Đốc chấp thuận cho gia nhập Đại Chủng Viện Sài Gòn vào ngày 01.08.1971, và thầy Giuse Tùng học hai năm triết học tại đây, từ năm 1971 đến năm 1973.
  • Từ năm 1973 – 1975, thầy Giuse Tùng giúp xứ Gia Định.
  • Sau ngày 30.04.1975, thầy trở lại Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, học 4 năm thần học, từ năm 1975 đến 1978. Sau đó, thầy trở về  tiếp tục giúp xứ Gia Định từ năm 1978-1990.
  • Từ năm 1990 – 1993, Ban Giám Đốc gọi thầy trở lại Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, để ôn luyện trước khi chịu chức Linh Mục, và sau đó thầy lại trở về giúp xứ Gia Định từ 1993 – 1995.
  1. 21 năm làm việc mục vụ tại Gia Định
  • Ngày 25.05.1995, Đức Giám Mục Phụ Tá Luy Phạm Văn Nẫm truyền chức Phó tế cho thầy Giuse Tùng tại nhà nguyện của Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, và ngày 27.05.1995, Đức Giám Mục Phụ Tá Luy Phạm Văn Nẫm truyền chức Linh Mục cho thầy Giuse Mai Thanh Tùng và thầy Toma Huỳnh Bửu Dư tại nhà thờ Chánh Tòa Đức Bà Sài Gòn, dưới sự chứng kiến và đặt tay của Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, với sự chấp thuận của Đức Cha Giám Quản Nicôla Huỳnh Văn Nghi.
  • Sau khi thụ phong Linh Mục, ngài được Đức Cha Huỳnh Văn Nghi bổ nhiệm làm Cha phó nhà thờ Gia Định từ ngày 29.05.1995 đến 11.09.2016: Làm cha Phó cho cha sở Antôn Phùng Quang Mạnh 9 năm và cha sở Inhaxiô 12 năm.
  • Cha Giuse Mai Thanh Tùng là một người rất nhiệt tình, không hề quản ngại bất cứ việc gì khi cần phải giúp đỡ người khác. Trong thời gian dài Đức Cố Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình đau yếu và nằm bệnh viện, thầy Giuse Tùng là người cùng với Cha Inhaxiô tận tình chăm sóc cho Đức Cố Tổng, mặc dù đêm hôm hay mưa gió, lúc nào cần là thầy có mặt ngay.
  • Cha Giuse Mai Thanh Tùng là người cộng tác nhiệt tình và sát cánh với Cha cố sở Antôn Phùng Quang Mạnh và Cha sở Inhaxiô trong các công trình xây dựng của Tổng giáo phận và của Hội Đồng Giám mục Việt Nam: như nâng cấp và xây mới nhà Hưu Dưỡng dành cho các linh mục ở Chí Hòa, xây dựng văn phòng và nhà khách Tòa Tổng Giám mục, nhà Hành Hương của Tòa tổng Giám Mục ở Bãi Dâu, nâng cấp và xây mới Đại Chủng Viện Thánh Giuse nhân dịp kỷ niệm 150 thành lập và xây dựng trung tâm Công Giáo, nay là Văn phòng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Nhờ có cha Giuse Tùng nhiệt tình giúp đỡ, nhất là gánh vác công việc của họ đạo, nên cha sở Inhaxiô mới yên tâm lo cho công việc của Tổng Giáo Phận với nhiều trọng trách mà bề trên giao phó
  • Cha Giuse Mai Thanh Tùng là một cha phó rất yêu thương các anh em linh mục, noi gương cha cố sở Antôn và Cha sở Inhaxiô, luôn dành cho anh em linh mục những điều tốt đẹp nhất. Ngài cũng là một Cha phó rất siêng năng trong việc mục vụ, chăm sóc phần hồn cho các anh chị em giáo dân. Trong thời gian làm thầy, ngài đã cộng tác với các cha trong việc dạy giáo lý cho các em rước lễ, thêm sức. Khi làm linh mục, cha được cha cố sở Antôn giao việc dạy giáo lý cho các anh chị em tân tòng và hôn nhân. Không kể giờ giấc hay đêm hôm khuya khoắt, bất cứ lúc nào có người gọi đi xức dầu kẻ liệt là cha đi ngay. Cha cũng noi gương Cha sở Inhaxiô, thường xuyên giúp đỡ những người nghèo khổ, bệnh tật trong âm thầm và yêu thương.
  • Cha Giuse Mai Thanh Tùng được Đức Tổng Phaolô giao chức vụ Quản lý Tổng giáo phận từ ngày 23.01.2015.
  • Theo sự sắp xếp và bổ nhiệm của Tòa Tổng Giám Mục và theo thư bổ nhiệm ngày 16-06-2016 của Đức Giám Mục Phaolô Bùi Văn Đọc, Tổng Giám Mục Giáo Phận Sài Gòn.
  • Cha Giuse Mai Thanh Tùng chính thức nhận nhiệm sở vào ngày 12 tháng 9 năm 2016 và là Cha sở thứ 13 của Giáo Xứ Gia Định.